Viêm quanh khớp vai hạn chế vận động, có thể gây liệt, tàn phế

  11/02/2020

Mặc dù viêm quanh khớp vai không gây tử vong, nhưng ảnh hưởng xấu đến khả năng lao động và chất lượng sống. Trong đó, viêm khớp vai thể đông cứng kết hợp mất chức năng tay có nguy cơ hạn chế vận động, gây liệt và tàn phế.

1. Viêm quanh khớp vai

Khớp vai là một trong những khớp lớn, có tầm vận động rộng nhất trong các khớp của cơ thể và bao gồm 5 khớp nhỏ:

  • Khớp vai chính;
  • Khớp mỏm cùng cánh tay;
  • Khớp mỏm cùng - xương đòn;
  • Khớp ức đòn;
  • Khớp bả vai - lồng ngực.

Khớp vai có liên quan nhiều đến các gốc thần kinh vùng cổ, hạch giao cảm cổ và phần trên của lưng. Do đó, khi xảy ra tổn thương vùng đốt sống cổ, trung thất, hoặc lồng ngực đều có nguy cơ gây ra viêm gân, hay viêm và co thắt bao khớp, khiến người bệnh bị đau và hạn chế vận động khớp vai. Viêm quanh khớp vai chỉ tất cả những trường hợp khớp vai bị đau và hạn chế vận động do phần mềm quanh khớp như gân cơ, dây chằng hay bao hoạt dịch, bao khớp bị tổn thương.

Viêm quanh khớp vai hạn chế vận động, có thể gây liệt, tàn phế

2. Nguyên nhân gây viêm quanh khớp vai

Mặc dù có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng viêm quanh khớp vai, tuy nhiên chấn thương và vi chấn thương đóng vai trò chủ yếu. Cụ thể:

  • Nghề nghiệp gắn với máy móc gây rung xóc khớp vai kéo dài, người lao động thường phải giơ tay cao hơn 90 độ, học sinh hoặc dân văn phòng có thói quen chống tì khuỷu tay lên bàn;
  • Viêm gân, thoái hóa gân do tuổi tác;
  • Tiền sử ngã gãy xương;
  • Kéo giãn khớp vai quá mức;
  • Vận động khớp vai nhanh mạnh đột ngột, ví dụ như vận động viên thể thao;
  • Dùng thuốc kháng lao, thuốc nhóm barbiturat hoặc lạm dụng thuốc ngủ.

Ngoài ra, các nguyên nhân gián tiếp ở xa khớp vai bao gồm:

  • Sau đột quỵ não;
  • Thoái hóa cột sống cổ;
  • Thoát vị đĩa đệm;
  • Bệnh ở phổi, màng phổi, hoặc trung thất;
  • Một số bệnh lý khác: Tim mạch, hô hấp, tiểu đường, ung thư vú, thần kinh.

3. Triệu chứng các thể viêm quanh khớp vai

Dựa theo mức độ tổn thương mà viêm quanh khớp vai biểu hiện bởi ba thể:

3.1. Viêm quanh khớp vai đơn thuần

Còn gọi là viêm gân mạn tính, là thể phổ biến nhất của hội chứng viêm khớp vai, chiếm khoảng 90% tổng số bệnh nhân bị viêm quanh khớp vai đơn thuần với những dấu hiệu như:

  • Đau ở mỏm cùng vai, gân cơ đầu cánh tay, mặt trước xương cánh tay và mặt ngoài vai;
  • Đau cả khi nghỉ, thường tăng vào ban đêm do khớp vai không hoạt động làm tăng phù nề tổ chức viêm, kết hợp trương lực cơ và tư thế khi ngủ kích thích cơn đau;
  • Đau tăng khi ấn vào và khi vận động hết tầm, đặc biệt là động tác giang tay, giơ tay lên trên và ra phía sau;
  • Không có dấu hiệu sưng nóng đỏ vùng khớp vai;
  • Chụp X-quang khớp vai không phát hiện bất thường;
  • Siêu âm có thể thấy viêm khớp vai có dịch quanh bao gân nhị đầu;
  • Các động tác vận động khớp vai không hoặc ít bị hạn chế.
  • Thể viêm quanh khớp vai đơn thuần tiến triển nhẹ, cơn đau tự động giảm dần rồi biến mất hẳn trong vài tuần, tuy nhiên bệnh cũng thường dễ tái phát.

3.2. Viêm khớp vai thể đông cứng

Co cứng bao khớp gây ra triệu chứng đau và hạn chế vận động khớp vai, thể bệnh này diễn biến qua 3 giai đoạn:

Giai đoạn đầu: Bệnh nhân có biểu hiện đau khớp vai đơn thuần và kéo dài trong vài tuần;

Giai đoạn nghẽn tắc (đông cứng): Kéo dài từ vài tháng đến nhiều năm, bệnh nhân ít bị đau nhưng lại tăng hạn chế vận động nhiều động tác. Bệnh lâu ngày có thể làm teo nhẹ cơ trên và dưới gai do giảm vận động;

Giai đoạn hồi phục (tan đông): Hạn chế vận động giảm dần, tất cả cử động của khớp vai trở lại bình thường và không có di chứng.

3.3. Hội chứng vai - tay

Ở giai đoạn nghẽn tắc của viêm khớp vai thể đông cứng, nếu khớp vai bị tổn thương mà có kèm theo rối loạn thần kinh vận mạch ở bàn tay thì được gọi là hội chứng vai - tay (hội chứng loạn dưỡng thần kinh giao cảm phản xạ hay hội chứng Sudex). Ngoài biểu hiện đau và hạn chế vận động khớp vai kiểu nghẽn tắc, bàn tay bị rối loạn thần kinh vận mạch còn có triệu chứng:

  • Phù cứng bàn tay, lan lên một phần cẳng tay;
  • Màu da đỏ tía hoặc tím, sờ vào thấy lạnh;
  • Đau nhức cả bàn tay kiểu bỏng buốt suốt ngày đêm;
  • Móng tay mỏng, giòn và dễ gãy;
  • Ngón tay luôn ở tư thế gấp;
  • Teo các cơ của bàn tay rõ ràng;
  • Cử động bàn và ngón tay bị hạn chế.

Hội chứng vai - tay cũng tiến triển qua 3 giai đoạn (cấp tính - loạn dưỡng - teo) và kéo dài từ 6 tháng - 2 năm, các triệu chứng sẽ giảm dần trước khi khỏi hẳn. Tuy nhiên thể bệnh này sẽ để lại di chứng teo vai - cánh tay và giảm trương lực cơ, cũng như hạn chế vận động bàn tay. Loạn dưỡng thần kinh giao cảm phản xạ tuy khá ít gặp (chỉ dưới 1%), nhưng lại nặng nề và khó điều trị nhất, có thể dẫn đến liệt hoặc tàn phế một bên tay. Một số trường hợp cử động vai hoặc bàn tay mạnh cũng khiến bệnh tái phát.

 

Tin tức mới Xem tất cả