Gãy xương quai hàm và cách điều trị tốt nhất

  02/12/2019

Chấn thương, gãy xương vùng hàm mặt chiếm tỷ lệ khoảng 5% trong tổng số gãy xương của cơ thể nguyên nhân do va đập. Tỷ lệ này có xu hướng tăng lên trong giai đoạn hiện nay, nhất là ở Việt nam. Điều trị xương quai hàm bằng các phương tiện kết hợp xương có thể liền xương nhanh chóng.

1. Tổng quan gãy xương quai hàm

Khối xương hàm mặt có cấu trúc đặc biệt, là khung đỡ cho tổ chức phần mềm che phủ bên ngoài, tạo nên hình thể đặc thù của từng khuôn mặt khác nhau. Vùng hàm mặt chỉ có xương hàm dưới là xương vận động duy nhất, còn lại các xương liên kết với nhau bởi các khớp răng cưa bất động. Khối xương hàm mặt sắp xếp thành các lớp trên dưới, trước sau chồng chéo lên nhau, cho nên chẩn đoán gãy xương trên lâm sàng và X quang đều khó chính xác, dễ bỏ sót tổn thương .

Trong khối xương hàm mặt chứa đựng những cơ quan giữ những chức năng quan trọng và liên quan chặt chẽ đến sọ não đặc biệt là nền sọ. Khi chấn thương gãy xương thường kết hợp với những thương tổn các cơ quan và chấn thương sọ não ở các mức độ khác nhau. Cấp cứu, điều trị gãy xương vùng hàm mặt không được bỏ sút và coi nhẹ những tổn thương kết hợp trên.

Điều trị gãy xương vùng hàm mặt phải đạt được hai yếu cầu là phục hồi hình thể giải phẫu thẩm mỹ của khuôn mặt và chức năng của các cơ quan.

Gãy xương quai hàm chiếm tỷ lệ khoảng 30 – 40% gãy xương vùng hàm mặt. các xương hàm trên, gò má - cung tiếp, xương mũi, xương khẩu cái, xương lệ, xương sàng và xương lá mía. Với những tác nhân gây gãy xương hiện nay, thường xảy ra gãy kết hợp nhiều xương cùng một lúc.

Gãy xương quai hàm và cách điều trị tốt nhất

2. Triệu chứng lâm sàng

Đau, sưng, phù nề sau chấn thương, đau tăng khi vận động hàm dưới và ăn nhai.

Hạn chế vận động hàm dưới do đau.

Nhìn thấy có biến dạng hoặc sưng nề lệch một bên hàm, có vết tím bầm tụ máu dưới da vùng liên quan đến ổ gãy xương.

Khi sờ, thấy có điểm đau chói, mất liên tục xương. Nếu gãy lồi cầu, sờ nắn vùng khớp thái dương hàm thấy đau (vùng trước tai).

Khám trong miệng: Thấy các vết rách niêm mạc lợi, kẽ các răng sàn miệng, chảy máu, tụ máu dưới niêm mạc.

Khám răng có thể thấy các triệu chứng sau:

Có di động bất thường hai răng tương ứng với vị trí gãy.

Sai khớp cắn trung tâm: lệch hoặc cắn hở.

Chụp X quang hàm mặt để chẩn đoán: Chụp thẳng mặt. Chụp chếch hàm bên tổn thương (phải hoặc trái). Schuller: tìm tổn thương lồi cầu. Chụp toàn cảnh (Panorama). Trên các thế chụp giúp ta chẩn đoán tương đối chính xác số lượng, vị trí và mức độ di lệch của các đoạn gãy.

3. Điều trị gãy xương hàm dưới

Cấp cứu điều trị ban đầu ở các tuyến:

Băng cố định đỉnh cằm, buộc chỉ thép liên kết các răng cạnh đường gãy để bất động phòng di lệch thứ phát, hỗ trợ cầm máu nếu có.

Dùng các thuốc giảm đau, chống phù nề, kháng sinh và truyền dịch nuôi dưỡng nếu cần.

Phòng chống ngạt (do phù nề, dịch máu, tụt lưỡi) trước khi vận chuyển về tuyến sau hoặc tuyến chuyên khoa.

Điều trị chuyên khoa:

Điều trị bảo tồn: Bằng các biện pháp cố định răng (nút số 8, nút bậc thang) hoặc cố định hai hàm bằng các nút buộc Ivy hay bằng cung móc (cung Tiguerstedt).

Các phương pháp cố định điều trị gãy xương hàm dưới được hướng dẫn cụ thể trên lâm sàng và tiểu giảng đường.

Điều trị bằng chỉnh hình: Chỉnh hình trong miệng là kỹ thuật ra đời sớm, được nhiều người ứng dụng và hiện nay vẫn là một phương pháp thông dụng ở nhiều nơi. Kết quả điều trị cho những trường hợp đường gãy đi qua vùng còn răng, di lệch ít. Nắn chỉnh xương gãy: bằng tay hoặc bằng lực kéo. Cố định xương gãy: cố định hai hàm bằng phương pháp trong miệng: buộc dây thép, nẹp, cung cố định hàm, làm máng... và phương pháp ngoài miệng: băng cầm đầu, các khí cụ tựa vào sọ.

Điều trị phẫu thuật: Điều trị chỉnh hình không thực hiện được trong một số trường hợp đặc biệt: ở bệnh nhân mất nhiều răng, bệnh nhân có nhiều răng bị lung lay và bệnh nhân là trẻ em còn nhiều răng sữa. Trong các trường hợp di lệch nhiều, có thể để lại sự tiếp xúc hai đầu gãy không tốt thì phương pháp chỉnh hình sẽ không đem lại kết quả như mong muốn. tùy thuộc vào vị trí gãy, qua đường mổ vùng dưới hàm hoặc ngách tiền đình lợi hàm dưới, nắn chỉnh đưa các đầu xương gãy về đúng vị trí giải phẫu và khớp cắn. Vì vậy, cần thiết phải có các chỉ định phẫu thuật cố định xương hàm, gồm hai phương pháp:

Phương pháp phẫu thuật cố định xương bằng chỉ thép: Phương pháp điều trị này sử dụng kỹ thuật khâu kết hợp xương bằng chỉ thép nhằm điều trị gãy xương hàm dưới.

Phẫu thuật cố định xương bằng nẹp vít: Cùng với sự phát triển về khoa học kỹ thuật trên thế giới, nẹp vít cũng được các nhà khoa học sáng chế thành nhiều loại khác nhau cả về kích thước, kiểu dáng và chất liệu. trong đó có nẹp cố định tự tiêu: Cấu tạo của các nẹp tự tiêu được tổng hợp từ phản ứng polyme hóa các dẫn xuất cacbon từ thiên nhiên. Đây là dạng vật liệu ưu việt nhất hiện nay dùng cho chấn thương chỉnh hình, với các ưu điểm là không gây độc và không bị biến dạng và ăn mòn, có tính tương thích sinh học cao, có độ bền cơ học tốt. Kỹ thuật nẹp kết hợp xương bằng nẹp tổ hợp cacbon cũng tương tự các bước như với nẹp kim loại, nhưng không cần dùng dụng cụ tạo nén ép các đoạn gãy, không phải dùng loại đinh ốc nén ép và không cần ghép xương bổ sung mà hiệu quả vẫn cao. Hiện nay, ở nước ta cũng đã sản xuất được nẹp vít có cấu trúc dạng cacbon này, đã đưa sản phẩm ra thị trường, điều trị an toàn và hiệu quả hàng nghìn trường hợp phẫu thuật thay thế nẹp vít bằng kim loại, giá thành rẻ, chất lượng ngang bằng các loại ngoại nhập. Do đó, thay thế nẹp vít tự tiêu sẽ là lựa chọn được ưu tiên hàng đầu trong chuyên ngành chấn thương, chỉnh hình.

Tin tức mới Xem tất cả